Người học tiếng Nhật thường thuộc bảng hiragana và katakana trong vài tuần, đọc chữ in khá trơn. Đến khi viết tay thì chuyện khác: シ viết ra trông như ツ, ソ lẫn với ン, ぬ và め chỉ khác một cái vòng mà tay quên mất. Đọc chữ in, mắt bạn được font chữ giúp. Viết tay, chỉ có bạn chịu trách nhiệm cho từng nét. Bài này gom các cặp kana dễ lẫn nhất, giải thích cái thật sự phân biệt chúng, vì nhiều khi thứ người học cố nhớ lại không phải thứ quan trọng.
シ và ツ, ソ và ン: hướng nét mới là chìa khoá
Đây là bốn chữ katakana bị viết lẫn nhiều nhất, kể cả với người học lâu. Cách dạy thông thường bảo: シ có hai chấm xếp dọc bên trái, ツ có hai chấm nằm ngang phía trên. Điều đó đúng, nhưng viết nhanh thì chấm nào cũng xô lệch và người đọc không dựa vào đó. Thứ người Nhật nhìn là hướng của nét dài cuối cùng:
- シ (shi): nét cuối kéo từ dưới trái hất lên trên phải, giống nét hất của chữ Hán. Đầu nét nằm thấp, đuôi nét vút lên.
- ツ (tsu): nét cuối kéo từ trên phải xuống dưới trái, giống nét phẩy. Đầu nét nằm cao, đuôi nét chúc xuống.
- ン (n): một chấm, rồi nét dài hất lên từ dưới, cùng kiểu với シ.
- ソ (so): một chấm, rồi nét dài kéo xuống từ trên, cùng kiểu với ツ.
Mẹo nhớ gọn: シ và ン là một nhà, nét cuối đi lên. ツ và ソ là một nhà, nét cuối đi xuống. Khi tay quen hướng nét, chấm đặt hơi lệch cũng không sao, người đọc vẫn nhận ra. Ngược lại, chấm đặt chuẩn nhưng nét cuối đi sai hướng thì ai đọc cũng khựng.
Lỗi này không chỉ là chuyện chữ đẹp. Tên người, tên công ty viết bằng katakana mà lẫn シ với ツ là thành tên khác: シム (shimu, phiên âm của SIM) viết thành ツム là hỏng. Trong bài thi viết, giáo viên Nhật chấm đúng theo hướng nét, không chấm theo chỗ chấm.
Những cặp katakana khác dễ lẫn
- ク (ku), ケ (ke), タ (ta): ク có hai nét. タ là ク thêm một nét chấm xiên ở giữa. ケ có nét ngang kéo ra ngoài và nét phẩy dài thả xuống, không có mái che như ク.
- フ (fu), ワ (wa), ウ (u): フ chỉ có một nét gập. ワ thêm nét đứng ngắn bên trái. ウ là ワ thêm một chấm trên đầu.
- コ (ko) và ユ (yu): ユ có nét ngang đáy kéo dài vượt ra ngoài, コ thì đáy bằng với nóc.
- ロ (ro) và chữ Hán 口 (khẩu): gần như giống hệt. Trong từ katakana thì đọc ro, đứng cạnh chữ Hán thì thường là 口. ロ hay được viết nhỏ hơn một chút.
- カ và 力, エ và 工, ニ và 二, ハ và 八, タ và 夕: katakana mượn dáng từ chữ Hán nên trùng hình. Người Nhật phân biệt nhờ ngữ cảnh. Bạn chỉ cần biết là chúng có tồn tại, đừng nghĩ mình viết sai.
Các cặp hiragana dễ lẫn
- さ (sa) và ち (chi): hai chữ gần như ảnh gương của nhau. Nét cong phía dưới của さ phình về bên trái như chữ c, còn của ち phình về bên phải như nửa dưới số 5. Viết ち mà nét cong không đủ tròn là người đọc thấy ra さ.
- ぬ (nu) và め (me): ぬ kết thúc bằng một vòng nhỏ ở góc dưới phải, め thì không. Tương tự る (ru) có vòng, ろ (ro) không có.
- ね (ne), れ (re), わ (wa): cùng nửa trái giống nhau. Phân biệt ở đuôi: ね cuộn thành vòng, れ hất ra ngoài như cái móc, わ cong tròn khép vào.
- は (ha), ほ (ho), ま (ma): は có một nét ngang, nét đứng bên phải xuyên qua nó. ほ có hai nét ngang, nét đứng bên phải không nhô lên trên nét ngang đầu. ま giống phần bên phải của ほ nhưng nét đứng xuyên qua cả hai nét ngang và không có nét đứng bên trái.
- き (ki) và さ (sa): き có hai nét ngang, さ chỉ có một.
- い (i) và り (ri): い hai nét ngắn ngang nhau, nét phải ngắn hơn. り nét phải kéo dài hẳn xuống dưới.
Lưu ý về hình in và hình viết tay: nhiều font in tách き và さ thành nhiều nét rời (き có bốn nét), nhưng chữ viết tay thường nối nét dưới thành một. Cả hai đều đúng. Đừng mất thời gian ép tay viết giống từng font.
Chữ nhỏ っ, ゃ, ゅ, ょ: viết to là đổi từ
Đây là lỗi ảnh hưởng tới nghĩa nhiều nhất. Chữ nhỏ trong tiếng Nhật không phải trang trí, nó đổi cách đọc:
- っ nhỏ làm phụ âm sau bị ngắt và kéo dài: きって (kitte, con tem) khác hẳn きつて (ki-tsu-te, không có nghĩa). Viết っ to bằng các chữ khác thì người đọc phải đoán.
- ゃ ゅ ょ nhỏ ghép với chữ đứng trước thành một âm: びょういん (byōin, bệnh viện) khác びよういん (biyōin, tiệm làm tóc). Hai từ này là ví dụ kinh điển, một chữ ょ to hay nhỏ đưa bạn tới hai nơi khác nhau.
Khi viết ngang, chữ nhỏ đặt sát dòng dưới, chiếm khoảng một nửa ô. Khi viết dọc, chữ nhỏ đặt lệch sang góc trên bên phải ô. Người học thường chỉ biết cách viết ngang, gặp bài viết dọc trong sách giáo khoa là lúng túng.
Dấu kéo dài ー và dấu biến âm ゛ ゜
- ー trong katakana kéo dài nguyên âm: コーヒー (kōhī, cà phê). Khi viết dọc, ー đổi thành một nét dọc. Viết ngang thì nét này dài hơn chữ Hán 一 một chút và nằm giữa dòng.
- ゛ (dakuten) là hai gạch ngắn ở góc trên bên phải: か thành が, シ thành ジ. ゜ (handakuten) là một vòng tròn nhỏ, chỉ đi với hàng は: ぱ, ぴ, ぷ, ぺ, ぽ. Đặt dấu sát chữ, không cách xa như dấu nháy.
- ぢ, づ và じ, ず: đọc giống nhau, nhưng ぢ và づ chỉ dùng trong vài trường hợp như chữ lặp âm (つづく, tiếp tục) hoặc từ ghép biến âm (はなぢ, chảy máu mũi). Còn lại gần như luôn là じ và ず.
Cách tự kiểm chữ mình viết
- Viết rồi để một ngày mới đọc lại. Lúc vừa viết, não bạn biết mình định viết gì nên đọc gì cũng thấy đúng. Sang hôm sau, những chữ シ trông như ツ sẽ lộ ra.
- Dùng bàn phím viết tay tiếng Nhật trên điện thoại. Viết từng chữ katakana dễ lẫn. Nếu máy đưa ツ khi bạn định viết シ, hướng nét của bạn đang sai.
- Luyện bằng từ thật, không luyện chữ rời. Viết シャツ (shatsu, áo sơ mi) để có cả シ lẫn ツ trong một từ. Viết ソース (sōsu, nước sốt) và ラーメン (rāmen) để có ソ, ン và ー.
- Chép tên người bằng katakana. Tên riêng không đoán được từ ngữ cảnh nên là bài kiểm tra tốt nhất cho độ rõ của chữ viết tay.
Muốn xem tên tiếng Việt của mình viết bằng katakana trông thế nào và đọc ra sao trong tiếng Nhật, thử tra tên chữ Hán rồi luyện viết lại đúng các chữ đó. Học kana đi kèm từ vựng và nghe theo lộ trình thì vào bài học trên Ngôn Ngữ.
Câu hỏi thường gặp
Làm sao phân biệt シ và ツ khi viết tay?
Nhìn hướng nét cuối: シ kéo từ dưới hất lên trên, ツ kéo từ trên xuống dưới. Vị trí hai chấm chỉ là phụ, người Nhật đọc theo hướng nét dài.
ソ và ン khác nhau thế nào?
ン có nét dài hất lên từ dưới giống シ, còn ソ có nét dài kéo xuống từ trên giống ツ. Nhớ theo cặp: シ và ン đi lên, ツ và ソ đi xuống.
Chữ っ nhỏ viết to có sao không?
Có, vì nó đổi cách đọc và có thể đổi nghĩa. きって là con tem, còn きつて đọc từng âm thì không thành từ. Chữ nhỏ nên chiếm khoảng một nửa ô và đặt sát dòng dưới.
Vì sao びょういん và びよういん khác nghĩa?
ょ nhỏ ghép với び thành một âm byo, nên びょういん là bệnh viện. ょ to được đọc riêng thành yo, nên びよういん là tiệm làm tóc.
Có cần viết kana giống y font chữ in không?
Không cần. Nhiều font tách nét khác với chữ viết tay, ví dụ き in bốn nét nhưng viết tay thường nối thành ba. Quan trọng là đúng hướng nét và giữ được các chi tiết phân biệt như vòng ở ぬ, る.