Chữ Hán có những cặp chữ mà sự khác biệt chỉ nằm ở một nét: dài hơn hay ngắn hơn, có chấm hay không, nét đầu là ngang hay phẩy. Đọc chữ in thì font chữ giúp bạn phân biệt. Viết tay thì không ai giúp, và chỉ cần tay hơi lơi là 土 thành 士, 未 thành 末, 己 thành 已. Người đọc vẫn đoán được qua ngữ cảnh trong câu dài, nhưng với tên riêng, ngày tháng, câu đối hay một từ đứng một mình, viết lệch một nét là viết sai chữ. Bài này không bắt bạn học thuộc danh sách, mà chia các cặp dễ nhầm thành sáu kiểu khác biệt. Biết mình đang đứng trước kiểu nào thì tay tự biết phải chú ý ở đâu.
Kiểu 1: cùng nét, khác độ dài
Đây là kiểu khó nhất vì hai chữ có đúng các nét như nhau, chỉ khác tỷ lệ.
- 土 (thổ, tǔ, đất) và 士 (sĩ, shì, kẻ sĩ): 土 có nét ngang dưới dài hơn, như mặt đất trải rộng. 士 có nét ngang trên dài hơn. Chữ 吉 (cát, tốt lành) có phần trên là 士, không phải 土. Viết nhầm thành 土 là người Trung đọc ra một chữ khác hẳn.
- 未 (vị, wèi, chưa) và 末 (mạt, mò, cuối): 未 có nét ngang trên ngắn hơn nét dưới, như ngọn cây chưa lớn. 末 có nét ngang trên dài hơn, như cành ngọn đã vươn tới cuối. 未来 là tương lai, 周末 là cuối tuần. Đây là cặp người Việt viết nhầm nhiều nhất vì cả hai đều quen mặt.
- 日 (nhật, rì, mặt trời) và 曰 (viết, yuē, nói rằng): 日 cao và hẹp, 曰 thấp và bè ngang. 曰 hay gặp trong văn cổ như 子曰 (Khổng Tử nói), câu mở đầu quen thuộc của sách Luận Ngữ.
- 人 (nhân) và 入 (nhập): ở 人, nét phẩy bên trái là nét dài, nét mác tựa vào. Ở 入, nét phẩy ngắn, nét mác bên phải mới là nét chính và nét phẩy tựa lên nó. Viết 入 mà hai chân bằng nhau là thành 人.
Cách luyện: viết hai chữ cạnh nhau, cố ý làm nét khác biệt lệch hẳn, đừng để chúng gần bằng nhau. Người bản ngữ cũng phóng đại sự khác biệt khi viết tay.
Kiểu 2: khác ở độ khép
Bộ ba nổi tiếng nhất là 己 (kỷ, jǐ, bản thân), 已 (dĩ, yǐ, đã) và 巳 (tỵ, sì, chi Tỵ). Ba chữ khác nhau ở chỗ nét sổ bên trái lên tới đâu:
- 己: nét bên trái chỉ chạm nét ngang giữa, phía trên mở hoàn toàn.
- 已: nét bên trái lên quá nửa, gần chạm nét ngang trên nhưng chưa khép.
- 巳: nét bên trái lên khép kín chạm hẳn nét ngang trên.
Học sinh Trung Quốc có câu vần để nhớ, đại ý: mở miệng là 己, nửa miệng là 已, khép miệng là 巳. Người Việt gặp chữ 巳 khi đọc can chi, năm Tỵ, giờ Tỵ, còn 己 có trong năm Kỷ (己亥 Kỷ Hợi, 己巳 Kỷ Tỵ) và trong từ 自己 (zìjǐ, bản thân). Năm Kỷ Tỵ viết 己巳, hai chữ gần giống nhau đứng cạnh nhau, viết lệch một chút là đọc ra chữ khác.
Kiểu 3: thêm hay bớt một chấm
- 鸟 (điểu, niǎo, chim) và 乌 (ô, wū, quạ, màu đen): 乌 thiếu đúng nét chấm của 鸟. Cách nhớ người Trung hay kể: con quạ đen tuyền nên không nhìn thấy mắt nó. Phồn thể cũng vậy: 烏 thiếu một nét ngang trong phần "mắt" so với 鳥.
- 免 (miễn, miǎn) và 兔 (thố, tù, con thỏ): 兔 thêm một chấm ở dưới, như cái đuôi của thỏ. 免费 là miễn phí, 兔子 là con thỏ.
- 大, 太, 犬: 大 không có chấm. 太 (thái) chấm ở dưới, giữa hai chân. 犬 (khuyển, chó) chấm ở trên bên phải.
- 王, 玉, 主: 王 không chấm. 玉 (ngọc) chấm ở dưới bên phải. 主 (chủ) chấm ở trên đầu.
- 瓜 (qua, guā, quả dưa) và 爪 (trảo, zhǎo, móng vuốt): 瓜 có thêm một nét nhỏ bên trong, như hạt dưa. 爪 không có.
- 侯 (hầu, hóu) và 候 (hậu, hòu): 候 có thêm một nét sổ ngắn giữa bộ 亻 và phần bên phải. 时候 (shíhou, lúc) dùng 候. 侯 là tước hầu trong 王侯.
Với kiểu này, nét chấm không phải trang trí. Thiếu chấm là sai chữ, kể cả trong viết nhanh. Khi luyện, viết chữ có chấm và chữ không chấm xen kẽ trên cùng một dòng để mắt quen nhìn chỗ khác.
Kiểu 4: nét ngang hay nét phẩy
- 天 (thiên, tiān, trời) và 夭 (yêu, yāo, chết non): 天 có hai nét ngang ở trên. 夭 thay nét ngang trên cùng bằng một nét phẩy ngắn nghiêng. Chữ 笑 (tiếu, cười) có phần dưới là 夭, người học hay viết thành 天.
- 千 (thiên, qiān, nghìn) và 干 (can, gān): 千 bắt đầu bằng nét phẩy, 干 bắt đầu bằng nét ngang. Viết nhanh mà nét đầu của 千 nằm ngang là thành 干.
Kiểu 5: nét có xuyên qua hay không
- 午 và 牛: nét sổ của 牛 nhô lên khỏi nét ngang trên, như cái sừng. Nét sổ của 午 dừng ngay ở nét ngang trên.
- 刀 (đao, dāo, dao) và 力 (lực, lì): nét phẩy của 力 đâm xuyên lên trên nét ngang, còn ở 刀 thì nét phẩy chỉ bắt đầu từ dưới nét ngang.
- 由, 甲, 申, 田: nét sổ giữa nhô lên trên (由), thò xuống dưới (甲), nhô cả hai đầu (申), hay nằm gọn trong khung (田).
Kiểu 6: nhóm chữ nhiều thành viên
Có những nhóm mà một nét nhỏ bên trong làm ra ba, bốn chữ khác nhau. Nhóm tiêu biểu là 戊 (mậu), 戌 (tuất), 戍 (thú), cả ba đều có thể gặp trong lịch can chi và văn cổ:
- 戊: bên trong trống.
- 戌: bên trong có một nét ngang.
- 戍: bên trong có một nét chấm.
Câu vần quen thuộc là 横戌点戍戊中空 (ngang là tuất, chấm là thú, mậu thì rỗng giữa). Năm Mậu Tuất viết 戊戌, hai chữ đứng cạnh nhau chỉ khác một nét ngang. Đây là chỗ người viết câu đối, gia phả hay viết lệch.
Thói quen viết để không nhầm
- Học chữ theo cặp ngay từ đầu. Khi gặp 未, tra luôn 末. Khi gặp 己, xem luôn 已 và 巳. Học riêng lẻ thì cái nào đến sau sẽ lấn cái trước.
- Gắn mỗi chữ với một từ quen. 未来, 周末, 自己, 已经, 兔子, 免费. Khi phân vân, nhớ lại từ là nhớ ra hình chữ.
- Phóng đại chỗ khác biệt khi viết tay, như đã nói ở trên. Viết nắn nót đều tay quá lại dễ làm hai chữ trông giống nhau.
- Đọc âm Hán Việt khi viết. Đọc to "mạt" khi viết 末, "vị" khi viết 未, tay sẽ ít lẫn hơn so với viết trong im lặng.
Khi không chắc mình vừa viết chữ nào, tra trang chữ để đối chiếu âm và nghĩa, ví dụ chữ 未 và chữ 末. Mỗi trang cho cách đọc trong tiếng Trung, Hàn, Nhật, giúp bạn gắn chữ với âm thay vì chỉ nhớ hình.
Câu hỏi thường gặp
Phân biệt 己, 已, 巳 thế nào?
Nhìn nét sổ bên trái: 己 mở hoàn toàn phía trên, 已 lên quá nửa nhưng chưa khép, 巳 khép kín. Câu vần của học sinh Trung Quốc là "mở miệng kỷ, nửa miệng dĩ, khép miệng tỵ".
Chữ 未 và 末 khác nhau ở đâu?
未 có nét ngang trên ngắn hơn nét dưới, 末 có nét ngang trên dài hơn. 未来 là tương lai, 周末 là cuối tuần.
Vì sao chữ 乌 không có chấm như 鸟?
Theo cách giải thích quen thuộc, con quạ đen tuyền nên không thấy mắt, vì vậy chữ 乌 bỏ đi nét chấm tượng trưng cho mắt chim trong 鸟.
土 và 士 chữ nào nét dưới dài hơn?
土 (đất) có nét ngang dưới dài hơn, 士 (kẻ sĩ) có nét ngang trên dài hơn. Chữ 吉 có phần trên là 士.
Phân biệt 戊, 戌, 戍 bằng cách nào?
Nhìn bên trong: 戊 rỗng, 戌 có một nét ngang, 戍 có một nét chấm. Năm Mậu Tuất viết là 戊戌.