Một bạn dùng phần mềm chuyển chữ giản thể sang phồn thể để viết thiệp mừng cho thầy giáo người Đài Loan, trong câu nhắc tới mái tóc bạc của thầy, chữ "tóc" 头发 thành 頭發, trong khi phải là 頭髮. Lỗi không nằm ở phần mềm kém, mà ở chỗ giản thể đã gộp hai chữ khác nhau là 發 (phát triển) và 髮 (tóc) vào một chữ 发. Khi chuyển ngược lại, máy phải đoán, và đoán sai là chuyện thường. Hiểu giản thể được tạo ra theo quy luật nào, chữ nào bị gộp, bạn sẽ đọc được cả hai dạng, biết nên học dạng nào trước, và không mắc những lỗi khiến người bản xứ nhìn ra ngay là chuyển bằng máy.
Ai dùng giản thể, ai dùng phồn thể
Chữ giản thể được Trung Quốc đại lục ban hành và phổ biến từ những năm 1950, sau đó Singapore và Malaysia cũng dùng theo. Đài Loan, Hồng Kông, Ma Cao vẫn dùng chữ phồn thể. Hàn Quốc khi viết hanja cũng dùng dạng phồn thể. Nhật Bản đi một đường riêng, có bộ chữ giản hoá của mình, khác cả hai.
Với người Việt, còn một lý do nữa để biết phồn thể: gia phả, câu đối, hoành phi, văn bia, sách Hán Nôm đều viết phồn thể. Âm Hán Việt cũng được ghi theo chữ phồn thể, nên từ điển Hán Việt quen thuộc thường in dạng phồn.
Quy luật giản hoá: học một bộ, đọc được cả trăm chữ
Phần lớn chữ giản thể không được giản hoá từng chữ một, mà theo thành phần. Thuộc các thành phần dưới đây, bạn chuyển qua lại được rất nhiều chữ:
| Phồn | Giản | Ví dụ phồn → giản |
|---|---|---|
| 言 | 讠 | 說 → 说, 語 → 语, 話 → 话 |
| 金 | 钅 | 銀 → 银, 鐵 → 铁, 錢 → 钱 |
| 食 | 饣 | 飯 → 饭, 餓 → 饿, 館 → 馆 |
| 糸 | 纟 | 紅 → 红, 線 → 线, 紙 → 纸 |
| 門 | 门 | 問 → 问, 間 → 间, 閉 → 闭 |
| 馬 | 马 | 媽 → 妈, 嗎 → 吗, 騎 → 骑 |
| 貝 | 贝 | 買 → 买, 貴 → 贵, 財 → 财 |
| 見 | 见 | 現 → 现, 視 → 视, 覺 → 觉 |
Có những chữ giản hoá đến mức mất luôn bộ thủ, cần học riêng. 開 (khai, mở) thành 开, bỏ hẳn bộ 門. 廣 (quảng) thành 广, chỉ còn cái vỏ. 習 (tập) thành 习, 飛 (phi) thành 飞. 賣 (mại, bán) thành 卖 còn 買 (mãi, mua) thành 买, hai chữ chỉ khác nhau phần trên, người mới học hay đọc lẫn mua với bán.
Chữ bị gộp: chỗ máy chuyển đổi hay sai nhất
Khi giản hoá, nhiều cặp chữ đồng âm hoặc gần âm bị gộp làm một. Từ phồn sang giản thì không sao, nhưng từ giản sang phồn thì phải biết nghĩa mới chọn được chữ.
| Giản thể | Phồn thể tương ứng | Ví dụ đúng |
|---|---|---|
| 发 | 發 (phát, phát ra) · 髮 (phát, tóc) | 發展 phát triển · 頭髮 tóc |
| 后 | 后 (hậu, hoàng hậu) · 後 (hậu, sau) | 皇后 hoàng hậu · 以後 về sau |
| 干 | 干 (can, can dự) · 乾 (can, khô) · 幹 (cán, làm) | 干涉 can thiệp · 乾淨 sạch sẽ · 幹部 cán bộ |
| 面 | 面 (diện, mặt) · 麵 (miến, mì) | 面子 thể diện · 麵條 sợi mì |
| 里 | 里 (lý, dặm, làng) · 裡 (lý, bên trong) | 公里 cây số · 這裡 ở đây |
| 只 | 只 (chỉ, chỉ có) · 隻 (chích, con, chiếc) | 只有 chỉ có · 一隻貓 một con mèo |
| 台 | 台 · 臺 (đài) · 颱 (bão) · 檯 (bàn) | 臺灣 Đài Loan · 颱風 bão |
| 复 | 復 (phục, trở lại) · 複 (phức, nhiều lớp) | 恢復 khôi phục · 複雜 phức tạp |
| 云 | 云 (vân, nói rằng) · 雲 (vân, mây) | 白雲 mây trắng |
| 谷 | 谷 (cốc, thung lũng) · 穀 (cốc, lúa gạo) | 山谷 thung lũng · 穀物 ngũ cốc |
Chữ 干 là nổi tiếng nhất, vì một chữ giản thể ứng với ba chữ phồn. Ngoài bảng này còn những cặp như 松 (cây thông) và 鬆 (lỏng), 余 (tôi) và 餘 (thừa), 斗 (cái đấu) và 鬥 (đánh nhau). Cũng có chữ 范: giản thể gộp họ Phạm 范 với 範 (khuôn mẫu), nên phần mềm hay biến họ Phạm thành 範.
Với người Việt, bảng này còn giúp đọc đúng âm Hán Việt. Thấy 干 trong văn bản giản thể, bạn phải xem ngữ cảnh mới biết đọc "can" hay "cán". Thấy 只 thì có thể là "chỉ" hoặc "chích".
Giản thể không hoàn toàn là chữ mới
Nhiều người nghĩ giản thể là chữ "chế" ra vào thế kỷ trước. Thật ra không ít chữ giản thể là lấy lại dạng cổ hoặc dạng viết tắt đã dùng trong dân gian hàng trăm năm. 云 chính là chữ cổ vẽ hình đám mây, về sau người ta mượn nó để viết nghĩa "nói rằng", rồi thêm bộ 雨 thành 雲 để chỉ mây. 网 là hình tấm lưới, có từ trước 網. 从 là hai người đi theo nhau, có từ trước 從. Những chữ khác như 万 (vạn), 礼 (lễ), 体 (thể) đã xuất hiện trong văn bản viết tay từ rất lâu. Biết điều này giúp bạn bớt cảm giác giản thể là một hệ chữ xa lạ: phần lớn nó là chữ Hán viết gọn theo những cách người xưa vẫn làm.
Tiếng Nhật: con đường thứ ba
Nhật Bản cũng giản hoá một số chữ sau chiến tranh, gọi là chữ mới (新字体), nhưng theo cách riêng. Vì vậy cùng một chữ có thể có ba dạng:
| Phồn thể | Giản thể Trung | Chữ Nhật | Hán Việt |
|---|---|---|---|
| 氣 | 气 | 気 | khí |
| 廣 | 广 | 広 | quảng |
| 賣 | 卖 | 売 | mại |
| 圖 | 图 | 図 | đồ |
| 圓 | 圆 | 円 | viên |
| 國 | 国 | 国 | quốc |
| 學 | 学 | 学 | học |
Hai dòng cuối giống nhau giữa Trung và Nhật, các dòng trên thì khác. Người học tiếng Nhật sau khi biết giản thể Trung thường viết nhầm 気 thành 气, hoặc 図 thành 图. Chữ 円 là ví dụ thú vị: đây là đơn vị tiền yên của Nhật, vốn là chữ 圓 (tròn) viết gọn.
Nên học dạng nào trước
Không có đáp án chung, chỉ có đáp án theo mục tiêu:
- Học tiếng Trung để học tập, làm việc ở Trung Quốc đại lục: giản thể. Đề thi, sách giáo khoa, điện thoại, hợp đồng đều dùng giản thể.
- Làm việc với Đài Loan, Hồng Kông: phồn thể.
- Đọc gia phả, câu đối, tài liệu Hán Nôm: phồn thể.
- Học tiếng Nhật: chữ Nhật, đừng học giản thể Trung trước rồi chuyển sang.
- Học hanja tiếng Hàn: phồn thể.
Cách làm thực tế nhất là viết một dạng, đọc hai dạng. Chọn dạng hợp mục tiêu để luyện viết, còn dạng kia chỉ cần nhận ra khi đọc. Người biết phồn thể thường đọc giản thể khá dễ nhờ quy luật thành phần ở trên. Chiều ngược lại khó hơn, chính vì những chữ bị gộp: biết 发 không cho bạn biết khi nào viết 發, khi nào viết 髮.
Khi phải chuyển đổi bằng máy
- Chuyển xong luôn rà lại các chữ trong bảng chữ bị gộp: 发, 后, 干, 面, 里, 只, 台, 复, 云, 谷, 范.
- Viết cho người Đài Loan thì chọn chế độ chuyển theo từ vựng Đài Loan nếu phần mềm có, vì họ còn dùng từ khác chứ không chỉ khác chữ.
- Tên riêng thì kiểm từng chữ, đặc biệt họ Phạm 范.
Muốn xem một chữ ở cả hai dạng cùng âm đọc ba thứ tiếng, bạn có thể mở trang chữ như 發 hoặc 後.
Câu hỏi thường gặp
Nên học chữ phồn thể hay giản thể trước?
Theo mục tiêu: học ở Trung Quốc đại lục thì giản thể, làm việc với Đài Loan, Hồng Kông hay đọc Hán Nôm thì phồn thể. Cách hiệu quả là luyện viết một dạng và tập đọc cả hai.
Vì sao chuyển giản thể sang phồn thể bằng máy hay sai?
Vì giản thể đã gộp nhiều chữ khác nhau làm một, như 发 ứng với cả 發 và 髮. Máy phải đoán theo ngữ cảnh nên dễ chọn sai.
Chữ Hán tiếng Nhật là phồn thể hay giản thể?
Không hẳn là cái nào. Nhật có bộ chữ giản hoá riêng: có chữ giống giản thể Trung như 国, có chữ khác hẳn như 気, 広, 図.
Hán Việt dựa trên phồn thể hay giản thể?
Âm Hán Việt gắn với chữ phồn thể, vì chữ Hán vào tiếng Việt từ rất lâu trước khi có giản thể. Từ điển Hán Việt và tài liệu Hán Nôm đều dùng phồn thể.
Người Hàn viết chữ Hán theo dạng nào?
Hanja ở Hàn Quốc dùng dạng phồn thể, gần với chữ Đài Loan hơn chữ Trung Quốc đại lục.