AiNgonNgu.comGõ một ô · ra Trung, Hàn, Nhật
Học
Chữ Hán

Chữ hình thanh: nhìn 青 đoán được âm của 清, 晴, 請, 情, và khi nào cách đoán hụt

Phần lớn chữ Hán ghép phần chỉ nghĩa với phần chỉ âm. Học theo họ chữ 青, 包, 工; vì sao họ 也, 每 đoán hụt; và vì sao âm Hán Việt nhóm chữ đều hơn pinyin.

Ba sinh viên ngồi trên bãi cỏ trong sân trường, cùng xem máy tính và trao đổi bài

Người học chữ Hán thường bắt đầu bằng chữ tượng hình: 日 là mặt trời, 山 là núi, 木 là cây. Nhưng loại chữ này chỉ chiếm phần nhỏ. Phần lớn chữ Hán là chữ hình thanh, ghép một phần chỉ nghĩa với một phần chỉ âm. Nắm được phần chỉ âm, bạn nhìn 青 là đoán được 清, 晴, 請, 情 đọc gần giống nhau, ở cả tiếng Việt, tiếng Trung, tiếng Hàn lẫn tiếng Nhật. Bài này đi qua mấy "họ chữ" tiêu biểu, chỉ ra vì sao có họ đoán trúng gần hết còn có họ lệch xa, và vì sao âm Hán Việt lại là lợi thế riêng của người Việt khi học cách này.

Chữ hình thanh là gì

Một chữ hình thanh có hai phần. Nghĩa phù, thường là bộ thủ, cho biết chữ thuộc loại nghĩa nào. Thanh phù cho biết chữ đọc gần với âm nào. Lấy 河 (hà, sông): 氵 nói đây là chuyện nước, 可 (khả) gợi âm. Lấy 銅 (đồng, kim loại đồng): 金 nói đây là kim loại, 同 (đồng) gợi âm và đọc giống hệt.

Người xưa tạo chữ hình thanh khi cần ghi một từ đã có trong lời nói mà khó vẽ thành hình. Họ mượn một chữ có âm gần, thêm bộ thủ để phân biệt nghĩa. Vì thế mỗi thanh phù thường sinh ra cả một họ chữ đọc gần nhau, khác nhau ở bộ.

Họ 青: đoán trúng ở cả bốn thứ tiếng

青 (thanh, màu xanh) là thanh phù đẹp nhất để bắt đầu, vì họ chữ của nó giữ âm rất đều.

ChữBộ (nghĩa)Hán ViệtPinyinHànNhật (On)
青gốcthanhqīng청セイ
清氵 nước trongthanhqīng청セイ
晴日 trời quangtìnhqíng청セイ
請言 mời, xinthỉnhqǐng청セイ
情忄 tình cảmtìnhqíng정ジョウ
精米 gạo giã kỹ, tinhtinhjīng정セイ
睛目 tròng mắttinhjīng정セイ

Nhìn bảng sẽ thấy hai điều. Một, nghĩa thay đổi đúng theo bộ: nước thì trong, trời thì quang, lời thì mời, lòng thì tình, gạo thì tinh, mắt thì tròng. Hai, âm giữ một khung chung: Hán Việt luôn vần "-anh/-inh", pinyin luôn "-ing", tiếng Hàn luôn "-ㅓㅇ", tiếng Nhật âm On gần như luôn セイ. Biết 青 rồi, gặp 晴 lần đầu bạn đã đoán được nó đọc "tình" hay "thanh", trời quang hay trời trong.

Họ 包: nghĩa đổi theo bộ, âm giữ khung

包 (bao, gói, bọc) là một họ khác rất nên học, vì mỗi bộ cho ra một nghĩa sinh động:

  • 抱 (bão, ôm) có 扌, ôm bằng tay. Pinyin bào.
  • 飽 (bão, no) có 食, ăn no. Pinyin bǎo.
  • 跑 (bào, chạy) có 足, chạy bằng chân. Pinyin pǎo.
  • 泡 (bào, bong bóng, ngâm) có 氵. Pinyin pào.
  • 炮 (pháo) có 火. Pinyin pào.
  • 胞 (bào, màng bọc thai) có 月 (thực ra là bộ thịt). Từ 同胞 đồng bào nghĩa đen là "cùng một bọc".
  • 袍 (bào, áo dài rộng) có 衣, như trong "long bào".

Âm Hán Việt quanh quẩn "bao, bão, bào, pháo", pinyin quanh quẩn "bao, pao". Thanh điệu thì khác nhau, và đây là điểm quan trọng: thanh phù gợi phụ âm và vần, không gợi thanh điệu. Người học tiếng Trung vẫn phải nhớ thanh của từng chữ.

Khi thanh phù đoán hụt

Chữ hình thanh được tạo ra từ hơn hai nghìn năm trước. Từ đó đến nay, âm đọc ở mỗi nơi biến đổi theo đường riêng, nên có những họ chữ đã lệch xa nhau.

  • Họ 工 (công): 功 công, 攻 công giữ đúng âm. Nhưng 江 (giang, jiāng), 紅 (hồng, hóng), 空 (không, kōng), 項 (hạng, xiàng) đã đi rất xa. Thanh phù chỉ còn gợi được vần, phụ âm đầu thì mỗi chữ một kiểu.
  • Họ 也 (dã, yě): 他 (tha, tā), 地 (địa, dì), 池 (trì, chí). Gần như không còn nhận ra quan hệ âm nếu không biết lịch sử.
  • Họ 每 (mỗi, měi): 海 (hải, hǎi), 悔 (hối, huǐ), 梅 (mai, méi), 敏 (mẫn, mǐn). Phụ âm đầu tách làm hai nhánh m và h.

Với những họ này, thanh phù vẫn có ích: nó cho bạn biết chữ nào "cùng gia đình", để khi học 海 bạn liên hệ được với 悔, 梅. Chỉ là đừng kỳ vọng đoán chính xác âm.

Lợi thế của người biết âm Hán Việt

Tiếng Trung phổ thông đã mất hẳn các phụ âm cuối -p, -t, -k của tiếng Hán cổ. Tiếng Việt và tiếng Hàn thì vẫn giữ. Vì vậy với những họ chữ có phụ âm cuối, âm Hán Việt nhóm chữ đều hơn pinyin rất nhiều.

ChữHán ViệtPinyinHàn
合hợphé합
盒hạp (cái hộp)hé합
給cấpgěi, jǐ급
拾thậpshí습
答đápdá답

Hán Việt tận cùng đều bằng -p, tiếng Hàn đều bằng ㅂ, còn pinyin mỗi chữ một kiểu và không có dấu hiệu gì của âm cuối. Người Việt học tiếng Hàn được lợi gấp đôi: thanh phù gợi âm, âm Hán Việt lại khớp đều với âm Hán Hàn. Học tiếng Trung thì âm Hán Việt giúp bạn nhận ra chữ cùng họ, còn pinyin phải học riêng.

Đừng nhầm chữ hình thanh với chữ hội ý

Không phải chữ ghép nào cũng có phần chỉ âm. Có một loại chữ gọi là hội ý, ghép hai, ba thành phần để cùng tạo ra nghĩa, không phần nào gợi âm cả.

  • 休 (hưu, nghỉ): người 亻 tựa vào cây 木. Không đọc giống 人 cũng không giống 木.
  • 好 (hảo, tốt): nữ 女 cạnh con 子.
  • 明 (minh, sáng): mặt trời 日 cạnh mặt trăng 月.
  • 森 (sâm, rừng rậm): ba chữ 木 chồng lên nhau.
  • 男 (nam, đàn ông): ruộng 田 cộng sức 力, người làm ruộng bằng sức.

Nếu cố đoán âm 休 theo 木 (mộc) hay 好 theo 子 (tử), bạn sẽ sai hoàn toàn. Dấu hiệu nhận biết: khi ghép nghĩa các thành phần lại thành một câu chuyện hợp lý, đó thường là chữ hội ý; khi một thành phần chẳng liên quan gì tới nghĩa mà lại đọc gần với cả chữ, đó là thanh phù. Có những chữ vừa hội ý vừa hình thanh, thành phần vừa gợi nghĩa vừa gợi âm, như 胞 ở trên: 包 vừa là âm "bao" vừa là nghĩa "bọc".

Dùng thanh phù để học chữ nhanh hơn

  1. Học theo họ chữ, không theo bài. Khi học được 青, tìm luôn 清, 晴, 請, 情, 精 và học cùng lúc. Năm chữ mất công gần bằng một chữ, vì bạn chỉ cần nhớ thêm bộ thủ.
  2. Gặp chữ lạ, tách hai phần ra trước. Phần nào chỉ nghĩa, phần nào chỉ âm. Đoán âm Hán Việt từ thanh phù, đoán nghĩa từ bộ, rồi mới tra.
  3. Ghi chú những họ "lệch" như 也, 每 riêng một trang, để biết không nên đoán âm theo chúng.
  4. Với tiếng Trung, học thanh điệu riêng. Thanh phù không giúp gì cho thanh điệu, đừng để việc đoán âm khiến bạn bỏ qua dấu thanh.

Bạn có thể mở trang chữ 青 để xem nghĩa và cách đọc ở ba thứ tiếng, hoặc tra một âm như thanh để thấy cả nhóm chữ cùng âm Hán Việt, trong đó nhiều chữ chung một thanh phù.

Câu hỏi thường gặp

Chữ hình thanh chiếm bao nhiêu phần chữ Hán?

Phần lớn chữ Hán thông dụng là chữ hình thanh, nhiều hơn hẳn chữ tượng hình, chỉ sự và hội ý cộng lại. Vì vậy học thanh phù là cách tiết kiệm công nhất khi học chữ.

Thanh phù có giúp đoán thanh điệu tiếng Trung không?

Không đáng tin. Thanh phù gợi phụ âm và vần khá tốt, nhưng thanh điệu trong cùng một họ chữ thường khác nhau, như 包 bāo, 飽 bǎo, 抱 bào.

Vì sao 海 và 每 cùng thanh phù mà đọc khác nhau?

Âm đọc đã biến đổi qua hơn hai nghìn năm, và họ chữ 每 tách thành hai nhánh m và h. Thanh phù lúc này chỉ cho biết chúng cùng gia đình chứ không cho âm chính xác.

Làm sao biết chữ ghép là hình thanh hay hội ý?

Nếu một thành phần không liên quan tới nghĩa mà đọc gần với cả chữ, đó là thanh phù. Nếu các thành phần ghép lại kể được nghĩa, như 休 là người tựa cây, đó là chữ hội ý.

Biết âm Hán Việt có giúp học tiếng Hàn không?

Giúp rất nhiều. Âm Hán Việt và âm Hán Hàn đều giữ phụ âm cuối nên khớp nhau đều, như hợp là 합, đáp là 답, tâm là 심.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.