AiNgonNgu.comGõ một ô · ra Trung, Hàn, Nhật
Học
Chữ Hán

Chữ Hán do Nhật, Hàn, Việt tự chế: 働, 畑, 畓 và chữ Nôm, những chữ tiếng Trung không có

働, 畑, 峠 là chữ người Nhật tạo; 畓, 乭 là chữ Hàn; chữ Nôm ghép 天 với 上 thành "trời". Cách nhận ra chữ tự chế và vì sao chữ 腺 trong "tuyến giáp" lại gốc Nhật.

Người leo núi áo đỏ nghỉ chân bên đường đèo uốn lượn giữa núi xanh vùng quê Nhật Bản

Người học tiếng Nhật gặp chữ 働 (làm việc) trong bài đầu tiên về công việc, nhưng đem hỏi một người bạn Trung Quốc thì họ không biết đọc. Lý do: 働 không phải chữ Trung Quốc mà là chữ người Nhật tự tạo. Chữ Hán đi ra khỏi Trung Quốc, đến Nhật, Hàn, Việt, và ở mỗi nơi người ta gặp những thứ tiếng Hán không có chữ để ghi, như một loại cây, một kiểu ruộng, một từ thuần bản ngữ. Thế là họ tự ghép chữ mới theo đúng cách người Trung vẫn ghép. Bài này giới thiệu những chữ tự chế tiêu biểu của từng nước, cách nhận ra chúng, và vì sao người học cần biết.

Chữ Nhật tự chế: quốc tự 国字

Người Nhật gọi chữ tự tạo là 国字 (こくじ, quốc tự). Phần lớn được tạo theo kiểu hội ý: ghép các thành phần có nghĩa để kể ra nghĩa chữ mới.

ChữĐọcNghĩaCách ghép
働はたらくlàm việcngười 亻 + động 動: người hoạt động
畑はたけruộng khô, nương rẫylửa 火 + ruộng 田: ruộng đốt cỏ để trồng
峠とうげđèonúi 山 + lên 上 + xuống 下
込こむđông đúc, đi vàobộ đi 辶 + vào 入
辻つじngã tư đườngbộ đi 辶 + mười 十 (hình chữ thập)
凪なぎbiển lặng giógió 風 (rút gọn) + dừng 止
榊さかきcây sakaki dùng trong lễ Thần đạocây 木 + thần 神
鰯いわしcá mòicá 魚 + yếu 弱: loài cá chết nhanh khi lên khỏi nước

Điểm chung của phần lớn quốc tự là chỉ có âm Kun, tức cách đọc thuần Nhật, không có âm On. Lý do dễ hiểu: chữ được tạo ra để ghi một từ Nhật, không có âm Hán gốc để mượn. Với người Việt, điều này có nghĩa là không thể dùng âm Hán Việt để đoán cách đọc.

Chữ 働 là ngoại lệ đáng nhớ: nó có thêm âm On ドウ, mượn từ 動. Vì vậy "lao động" tiếng Nhật viết 労働 (ろうどう), còn tiếng Trung viết 劳动. Người học cả hai thứ tiếng hay viết lẫn hai chữ này.

Một chữ Nhật đi vào tiếng Việt mà ít ai biết

Chữ 腺 (tuyến) là chữ do người Nhật tạo ra vào thời họ dịch sách y học phương Tây, để ghi khái niệm "tuyến" trong cơ thể: bộ thịt 月 cộng 泉 (suối, nguồn tiết ra). Sau đó chữ này đi ngược vào tiếng Trung (đọc xiàn) và vào tiếng Việt qua âm Hán Việt. Mỗi lần bạn nói "tuyến giáp", "tuyến nước bọt", bạn đang dùng một chữ Nhật tự chế, đọc theo cách người Việt đọc chữ Hán.

Đây cũng là chỗ dễ nhầm giữa hai khái niệm. Chữ tự chế là một ký tự mới hoàn toàn như 腺, 働. Còn từ do người Nhật tạo như 経済 (kinh tế), 電話 (điện thoại) thì dùng chữ Hán có sẵn, chỉ là ghép thành từ mới. Hai chuyện khác nhau, và loại thứ hai nhiều hơn loại thứ nhất rất nhiều.

Chữ Hàn tự chế: quốc tự 국자

Hàn Quốc cũng có chữ tự chế, ít hơn Nhật nhưng có vài chữ rất thú vị.

  • 畓 (답, ruộng nước): nước 水 trên ruộng 田. Trong tiếng Hàn, chữ 田 (전) lại chỉ ruộng khô, nên cần một chữ riêng cho ruộng lúa nước.
  • 乭 (돌): đá 石 cộng chữ 乙. Chữ 石 cho nghĩa "đá", tiếng Hàn thuần là 돌, còn 乙 được dùng để ghi âm cuối ㄹ. Chữ này hay gặp trong tên người thời xưa, kiểu tên mộc mạc như "Đá".
  • 媤 (시, nhà chồng): nữ 女 cộng 思. Gặp trong 媤宅 (시댁, nhà chồng).
  • 垈 (대, đất nền xây nhà): có trong 垈地 (대지).

Có một sự đối xứng đẹp: người Nhật tạo 畑 cho ruộng khô, người Hàn tạo 畓 cho ruộng nước. Hai dân tộc trồng lúa cùng thấy chữ 田 của Trung Quốc chưa đủ, và mỗi bên bổ sung phần mình thiếu.

Chữ Nôm: người Việt tự chế nhiều nhất

Trong ba nước, người Việt là nơi tự chế chữ nhiều nhất, vì chữ Nôm là cả một hệ chữ để ghi tiếng Việt. Truyện Kiều, văn thơ Hồ Xuân Hương đều viết bằng chữ Nôm. Chữ Nôm dùng hai cách:

  • Mượn chữ Hán có sẵn để ghi âm tiếng Việt: 羅 (la) để ghi "là", 埃 (ai, nghĩa gốc là bụi) để ghi "ai", 沒 (một) để ghi số "một". Người không biết Nôm đọc theo nghĩa Hán sẽ thấy câu văn vô nghĩa.
  • Ghép chữ mới: 𡗶 (trời) ghép 天 (thiên, trời) với 上 (thượng, trên). 𠊛 (người) ghép 人 (nhân, người) với 㝵 (ngại) để gợi âm. 𡨸 (chữ) ghép 字 (tự, chữ) với 宁 (trữ) để gợi âm. Một thành phần cho nghĩa, một thành phần cho âm tiếng Việt, giống hệt cách chữ hình thanh của Trung Quốc được tạo.

Lưu ý: nhiều chữ Nôm nằm ở vùng mã hiếm, điện thoại hoặc máy tính chưa có phông phù hợp sẽ hiện thành ô vuông. Nếu bạn thấy ô vuông trong đoạn trên, đó là do phông chữ, không phải chữ sai.

Người Trung Quốc không đọc được chữ Nôm, kể cả những chữ ghép từ thành phần quen thuộc, vì âm và nghĩa của nó gắn với tiếng Việt. Đây là khác biệt lớn với quốc tự Nhật: chữ Nhật như 働 thì người Trung đoán được nghĩa từ các thành phần, còn chữ Nôm thì phải biết tiếng Việt.

Nhận ra chữ tự chế khi học

  • Tiếng Nhật: nếu từ điển chỉ ghi âm Kun mà không có âm On, rất có thể đó là quốc tự. Không cố đoán theo Hán Việt, học như một từ thuần Nhật.
  • Tiếng Hàn: quốc tự ít và chủ yếu nằm trong tên người, địa danh, từ về đất đai. Gặp chữ lạ trong tên đất, tên ruộng thì nghĩ tới khả năng này.
  • Tiếng Trung: khi đọc tài liệu Nhật bằng kiến thức chữ Trung, gặp 畑, 峠, 込 mà không tra được trong từ điển Trung thì đó là chữ Nhật.

Bạn có thể mở trang chữ 働 để xem cách đọc ở từng thứ tiếng, hay chữ 腺 để thấy một chữ Nhật đã được cả tiếng Trung và tiếng Việt dùng như thế nào.

Những điều không cần làm

  • Không cần học thuộc danh sách quốc tự. Trong tiếng Nhật hằng ngày chỉ vài chục chữ hay gặp như 働, 畑, 込, 峠, 辻. Gặp chữ nào học chữ đó là đủ.
  • Không cần học chữ Nôm để học tiếng Trung, Nhật, Hàn. Chữ Nôm là di sản để đọc văn bản cổ tiếng Việt. Biết nguyên tắc tạo chữ của nó là đủ để thấy người Việt cũng từng "chế" chữ như hai nước kia.
  • Không cần lo chữ tự chế làm hỏng quy luật bộ thủ. Chính vì người Nhật, Hàn, Việt ghép chữ theo đúng logic bộ thủ và thanh phù, nên những gì bạn học về bộ thủ vẫn áp dụng được: nhìn 榊 vẫn đoán ra là một loại cây liên quan tới thần linh.

Câu hỏi thường gặp

Quốc tự tiếng Nhật là gì?

Quốc tự (国字, こくじ) là chữ Hán do người Nhật tự tạo, như 働, 畑, 峠. Phần lớn chỉ có âm Kun và được ghép theo kiểu hội ý.

Người Trung Quốc có đọc được chữ 働 không?

Thường thì không quen, vì đây là chữ Nhật. Tiếng Trung viết "lao động" là 劳动, còn tiếng Nhật là 労働.

Chữ Nôm có phải là chữ Hán không?

Chữ Nôm dùng chữ Hán và các thành phần chữ Hán để ghi tiếng Việt, gồm cả chữ mượn âm và chữ ghép mới như 𡗶 (trời). Người chỉ biết chữ Hán không đọc được chữ Nôm nếu không biết tiếng Việt.

Hàn Quốc có chữ Hán tự chế không?

Có, nhưng ít. Ví dụ 畓 (답, ruộng nước), 乭 (돌, đá, hay dùng trong tên), 媤 (시, nhà chồng).

Chữ tuyến trong tuyến giáp có nguồn gốc từ đâu?

Chữ 腺 do người Nhật tạo ra khi dịch y học phương Tây, sau đó được tiếng Trung và tiếng Việt dùng lại. Tiếng Việt đọc là tuyến.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.