AiNgonNgu.comGõ một ô · ra Trung, Hàn, Nhật
Học
Văn hoá ngôn ngữ Á Đông

Tết ở Trung, Hàn, Nhật: lì xì, lời chúc và vì sao người Nhật đón năm mới theo dương lịch

Nhật bỏ Tết âm từ thời Minh Trị, Hàn có lạy 세배 lấy tiền mừng, Trung chúc 恭喜发财. Lời chúc đúng lúc của từng nước, và vì sao năm Mão Việt Nam là mèo còn họ là thỏ.

Bà cụ mặc hanbok nhận lễ lạy đầu năm của hai đứa cháu trên sàn gỗ

Người Việt thường nghĩ cả vùng Đông Á đều ăn Tết âm lịch như mình. Thật ra chỉ đúng một nửa. Trung Quốc và Hàn Quốc vẫn coi Tết âm là dịp lớn nhất năm. Nhật Bản thì đã chuyển hẳn sang đón năm mới theo dương lịch từ cuối thế kỷ mười chín, và ngày mùng một Tết âm ở Nhật là một ngày làm việc bình thường. Gửi lời chúc Tết âm cho đồng nghiệp Nhật vào tháng Hai, họ sẽ cảm ơn lịch sự nhưng hơi ngỡ ngàng. Bài này đi qua tên gọi, phong tục chính và lời chúc đúng lúc của từng nước, kèm vài chi tiết khác biệt mà người Việt hay bất ngờ.

Trung Quốc: 春节, 年夜饭 và 红包

Tết âm lịch ở Trung Quốc gọi là 春节 (Chūnjié, Xuân tiết), nói thường là 过年 (guònián, ăn Tết). Đêm giao thừa là 除夕 (chúxī), cả nhà quây quần ăn 年夜饭 (niányèfàn, bữa cơm tất niên). Miền Bắc Trung Quốc gói sủi cảo, miền Nam có bánh tổ 年糕 (niángāo), đọc gần 年高, "năm sau cao hơn năm trước".

Nhà nào cũng dán câu đối đỏ 春联 (chūnlián) hai bên cửa và chữ 福 (fú, phúc). Nhiều nhà dán chữ 福 lộn ngược, vì "phúc ngược" là 福倒了 (fú dào le), mà 倒 (dào, ngược) đọc giống 到 (dào, đến): phúc đã đến. Người Việt treo chữ Phúc nhưng ít khi dán ngược, nên đây là chi tiết dễ làm khách Việt thắc mắc.

Tiền mừng tuổi là 红包 (hóngbāo, phong bao đỏ), còn gọi là 压岁钱 (yāsuìqián). Ngày nay phần lớn lì xì đi qua ứng dụng, nhóm chat gia đình "giật lì xì" (抢红包) thành trò chơi Tết.

Lời chúc phổ biến:

  • 新年快乐 (xīnnián kuàilè): chúc mừng năm mới, dùng được với mọi người.
  • 过年好 (guònián hǎo): câu chào Tết thân mật, rất phổ biến ở miền Bắc Trung Quốc.
  • 恭喜发财 (gōngxǐ fācái): chúc phát tài. Trẻ con thường đáp lại bằng câu đùa 红包拿来 (hóngbāo ná lái, đưa lì xì đây).
  • 万事如意 (wànshì rúyì): vạn sự như ý. Người Việt đọc âm Hán Việt là hiểu ngay.

Hàn Quốc: 설날, 세배 và 떡국

Tết âm ở Hàn gọi là 설날 (Seollal), thường được nghỉ ba ngày liền, người ta về quê như mùa Tết ở Việt Nam. Buổi sáng mùng một có lễ cúng tổ tiên 차례, rồi con cháu mặc hanbok làm lễ 세배: quỳ lạy ông bà, cha mẹ. Người lớn đáp lời chúc và trao 세뱃돈, tiền mừng tuổi.

Món bắt buộc là 떡국, canh bánh gạo thái lát. Người Hàn có câu nói vui rằng ăn một bát 떡국 là thêm một tuổi. Trẻ con hay hỏi xin bát thứ hai để "lớn nhanh".

Lời chúc chuẩn là 새해 복 많이 받으세요 (năm mới nhận nhiều phúc nhé). Câu này đi kèm động tác lạy 세배, nên người Việt nói câu này khi cúi chào đồng nghiệp Hàn dịp Tết là rất đúng. Câu đáp của người lớn thường là 새해 복 많이 받아 với người nhỏ tuổi.

Một chi tiết người Việt hay thấy lạ: ở Hàn, phong bì lì xì thường màu trắng hoặc có hoa văn, không nhất thiết phải màu đỏ như Trung Quốc và Việt Nam.

Nhật Bản: お正月 là ngày 1 tháng 1

Năm 1873, chính quyền Minh Trị chuyển Nhật Bản sang dùng dương lịch, và Tết truyền thống chuyển luôn sang ngày 1 tháng 1. Từ đó お正月 (おしょうがつ) của người Nhật là năm mới dương lịch, với gần đủ các phong tục mà người Việt gắn với Tết âm:

  • 大晦日 (おおみそか, đêm giao thừa): ăn 年越しそば (toshikoshi soba), mì kiều mạch dài, cầu sống lâu và cắt bỏ cái xui năm cũ.
  • 初詣 (はつもうで): đi lễ chùa hoặc đền thần đầu năm, giống người Việt đi lễ chùa đầu xuân.
  • おせち料理: các món ăn Tết xếp trong hộp nhiều tầng, mỗi món mang một lời chúc.
  • お年玉 (おとしだま): tiền mừng tuổi cho trẻ con, bỏ trong phong bì nhỏ có hình vẽ.
  • 年賀状 (ねんがじょう): thiệp chúc năm mới gửi qua bưu điện, được giao đúng sáng mùng một nếu gửi trước một hạn nhất định.

Lời chúc Nhật phải nói đúng lúc

Đây là chỗ người học tiếng Nhật hay sai nhất. Tiếng Nhật có hai câu khác nhau cho trước và sau thời khắc năm mới:

  • Trước năm mới, lần cuối gặp nhau trong năm: よいお年をお迎えください (chúc anh đón một năm mới tốt lành), nói tắt là よいお年を.
  • Sau năm mới: あけましておめでとうございます (chúc mừng năm mới), thường đi kèm 今年もよろしくお願いします (năm nay cũng mong được giúp đỡ).

Nói あけましておめでとうございます vào ngày 30 tháng 12 là sai, vì あける nghĩa là năm cũ đã qua. Người Việt quen chúc Tết trước từ nhiều ngày nên hay mắc lỗi này. Và nếu nhà người Nhật có tang trong năm, họ gửi thiệp báo tang 喪中はがき từ trước, khi đó bạn không gửi thiệp chúc Tết và không nói おめでとう với họ.

Khác biệt người Việt hay bất ngờ

Năm Mão: Việt Nam là mèo, ba nước kia là thỏ

Chi 卯 (Mão) trong mười hai con giáp là con thỏ ở Trung Quốc (兔, tù), Hàn Quốc (토끼) và Nhật Bản (うさぎ). Chỉ Việt Nam là mèo. Vì vậy tranh Tết năm Mão của ba nước kia vẽ thỏ, đừng tặng đối tác Nhật một con mèo sứ làm quà năm Mão rồi giải thích "năm con mèo".

Năm Hợi: Nhật là lợn rừng

Chi 亥 (Hợi) là con lợn ở Việt Nam, Trung Quốc (猪, zhū) và Hàn Quốc (돼지), nhưng ở Nhật là lợn rừng (いのしし). Thiệp năm Hợi của người Nhật vẽ con lợn rừng có răng nanh.

Tết Việt và Tết Trung không phải lúc nào cũng trùng ngày

Âm lịch Việt Nam tính theo múi giờ của Việt Nam, còn âm lịch Trung Quốc tính theo múi giờ Bắc Kinh, chênh nhau một giờ. Phần lớn các năm hai bên trùng ngày, nhưng thỉnh thoảng lệch. Năm 1985, Tết ở Việt Nam sớm hơn Trung Quốc cả một tháng: chênh một giờ làm điểm trăng non rơi vào hai ngày khác nhau, kéo theo tháng nhuận đặt ở hai chỗ khác nhau. Đây là chi tiết thú vị để kể khi đồng nghiệp người Trung hỏi về Tết Việt.

Chúc Tết đồng nghiệp nước ngoài thế nào cho khéo

  • Đồng nghiệp Trung Quốc: chúc 新年快乐 hoặc 过年好 vào đúng dịp 春节, kèm 身体健康 (shēntǐ jiànkāng, sức khoẻ) với người lớn tuổi.
  • Đồng nghiệp Hàn Quốc: chúc 새해 복 많이 받으세요, có thể chúc cả dịp năm mới dương lịch lẫn 설날.
  • Đồng nghiệp Nhật Bản: chúc vào đầu tháng Một. Cuối tháng Mười Hai nói よいお年を, sau ngày 1 tháng 1 nói あけましておめでとうございます.

Tên các con giáp, các câu chúc đều có gốc Hán. Tra từ năm mới hoặc chữ 春 để thấy cách đọc trong ba thứ tiếng và âm Hán Việt tương ứng.

Câu hỏi thường gặp

Người Nhật có ăn Tết âm lịch không?

Không, từ năm 1873 Nhật Bản đã chuyển sang dương lịch và đón năm mới vào ngày 1 tháng 1. Một số cộng đồng người Hoa ở Nhật vẫn tổ chức Tết âm, nhưng với đa số người Nhật đó là ngày bình thường.

Chúc mừng năm mới tiếng Hàn nói thế nào?

Nói 새해 복 많이 받으세요, nghĩa là năm mới nhận nhiều phúc. Với bạn bè thân hoặc người nhỏ tuổi hơn có thể nói 새해 복 많이 받아.

あけましておめでとうございます nói lúc nào?

Chỉ nói sau thời khắc năm mới, từ ngày 1 tháng 1. Trước đó, khi chia tay lần cuối trong năm, người Nhật nói よいお年を.

Vì sao năm Mão ở Trung Quốc là con thỏ?

Trong mười hai con giáp của Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản, chi Mão ứng với con thỏ. Việt Nam là nước duy nhất trong vùng dùng con mèo cho năm Mão.

Lì xì tiếng Trung gọi là gì?

Gọi là 红包 (hóngbāo), phong bao đỏ, hoặc 压岁钱 (yāsuìqián) khi nói về tiền mừng tuổi cho trẻ con. Ngày nay lì xì qua ứng dụng điện thoại rất phổ biến.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.