Người Việt sang Trung Quốc học hay làm việc thường lo chọn chữ cho tên mà quên rằng họ và tên đệm mới là phần dễ viết sai nhất. Họ Phạm viết thành 範 thay vì 范, họ Huỳnh đi tra mãi không thấy chữ "huỳnh" nào làm họ, chị tên Nguyễn Thị Lan bị đồng nghiệp gọi là "chị Thị" vì tưởng đó là tên. Họ người Việt gần như đều có chữ Hán từ xưa, chỉ cần biết đúng chữ và đúng cách đọc. Bài này gom các họ phổ biến nhất kèm phồn thể, giản thể và pinyin, rồi giải thích những chỗ người Việt hay vấp: họ đọc theo vùng miền, cặp họ chỉ khác nhau một thanh, và hai tên đệm Văn, Thị.
Bảng họ phổ biến bằng chữ Hán
Chữ phồn thể là dạng gia phả và Đài Loan dùng, giản thể là dạng dùng ở Trung Quốc đại lục. Họ nào hai dạng giống nhau thì chỉ có một chữ.
| Họ | Phồn thể | Giản thể | Pinyin |
|---|---|---|---|
| Nguyễn | 阮 | 阮 | Ruǎn |
| Trần | 陳 | 陈 | Chén |
| Lê | 黎 | 黎 | Lí |
| Phạm | 范 | 范 | Fàn |
| Hoàng, Huỳnh | 黃 | 黄 | Huáng |
| Phan | 潘 | 潘 | Pān |
| Vũ, Võ | 武 | 武 | Wǔ |
| Đặng | 鄧 | 邓 | Dèng |
| Bùi | 裴 | 裴 | Péi |
| Đỗ | 杜 | 杜 | Dù |
| Hồ | 胡 | 胡 | Hú |
| Ngô | 吳 | 吴 | Wú |
| Dương | 楊 | 杨 | Yáng |
| Lý | 李 | 李 | Lǐ |
| Trương | 張 | 张 | Zhāng |
| Trịnh | 鄭 | 郑 | Zhèng |
| Lương | 梁 | 梁 | Liáng |
| Đinh | 丁 | 丁 | Dīng |
| Lâm | 林 | 林 | Lín |
| Lưu | 劉 | 刘 | Liú |
| Châu, Chu | 周 | 周 | Zhōu |
| Tô | 蘇 | 苏 | Sū |
| Hà | 何 | 何 | Hé |
| Đoàn | 段 | 段 | Duàn |
| Cao | 高 | 高 | Gāo |
Một chi tiết vui: ở Trung Quốc họ 阮 khá hiếm, nên nhiều người Trung nghe bạn giới thiệu "我姓阮" (wǒ xìng Ruǎn, tôi họ Nguyễn) là đoán ngay bạn là người Việt.
Huỳnh và Hoàng, Võ và Vũ: hai âm, một chữ
Người miền Nam họ Huỳnh đi tìm chữ "huỳnh" làm họ sẽ không thấy, vì họ Huỳnh chính là họ Hoàng 黃. Cách giải thích phổ biến là thời các chúa Nguyễn ở Đàng Trong, dân phải kiêng đọc chữ trùng tên chúa Nguyễn Hoàng, nên đọc chệch 黃 thành "Huỳnh". Họ Võ và họ Vũ cũng vậy, cùng là 武, được giải thích là do kiêng tên một chúa Nguyễn khác. Họ Châu ở miền Nam và họ Chu ở miền Bắc nhiều trường hợp cũng cùng là 周.
Điều này có hệ quả thực tế: sang tiếng Trung, Huỳnh và Hoàng đều đọc Huáng, Võ và Vũ đều đọc Wǔ. Hai người Việt khác họ trên giấy tờ có thể có cùng một họ khi viết chữ Hán. Ngược lại, khi người Trung đọc tên bạn từ chữ 黃, bạn đừng ngạc nhiên vì không nghe thấy âm nào giống "Huỳnh".
Những chữ hay viết sai
- Phạm là 范, không phải 範. Trong phồn thể, 範 là "khuôn mẫu" (模範 mô phạm, 範圍 phạm vi). Giản thể gộp cả hai về 范, nên người chuyển từ giản sang phồn bằng máy hay đổi nhầm họ thành 範. Họ Phạm ở cả phồn thể lẫn giản thể luôn là 范.
- Hoàng phồn thể 黃 khác giản thể 黄 ở phần trên cùng: phồn thể mở đầu bằng khối giống chữ 廿, giản thể viết gọn hơn. Nhìn thoáng thì giống, đặt cạnh nhau mới thấy. Viết gia phả thì dùng 黃.
- Ngô phồn thể là 吳, giản thể là 吴. Tiếng Nhật lại dùng dạng thứ ba là 呉. Ba dạng này cùng một chữ, chỉ khác chuẩn chữ viết của từng nơi.
- Đặng 鄧 có bộ ấp 阝 bên phải. Giản thể 邓 thay phần bên trái bằng 又. Đừng nhầm với 登 (đăng, leo lên), vốn là phần chỉ âm của chữ.
Cặp họ chỉ khác nhau một thanh
Đây là chỗ người Việt nói tiếng Trung hay bị hiểu nhầm nhất, vì tiếng Việt phân biệt các họ này bằng phụ âm, còn tiếng Trung chỉ còn thanh điệu.
- Lê 黎 Lí và Lý 李 Lǐ: cùng âm li, Lê là thanh hai (đi lên), Lý là thanh ba (xuống rồi lên). Người họ Lê đọc thanh không rõ sẽ bị ghi thành họ Lý, vì 李 phổ biến hơn rất nhiều.
- Ngô 吳 Wú và Vũ 武 Wǔ: tiếng Việt khác nhau cả phụ âm lẫn vần, sang tiếng Trung chỉ còn khác thanh hai và thanh ba.
- Phạm 范 Fàn và Phan 潘 Pān: khác cả phụ âm f/p lẫn thanh, nhưng người Việt hay đọc 潘 thành "fan" theo thói quen chữ "Ph" của tiếng Việt. Trong pinyin, p là âm bật hơi giống "p" trong "pin", không phải "ph".
Khi giới thiệu, người Trung hay tự giải thích họ của mình bằng cách tách chữ, ví dụ 李 là 木子李 (chữ mộc trên chữ tử). Bạn họ Lê có thể nói 黎明的黎 (chữ Lê trong "bình minh"), họ Trần nói 耳东陈 (bộ nhĩ cộng chữ đông). Cách này giúp người nghe ghi đúng chữ ngay lần đầu.
Tên đệm Văn và Thị
Văn là 文 (wén), nghĩa là văn chương, văn hoá. Chữ này rất phổ biến trong tên người Trung, nên 阮文明 (Ruǎn Wénmíng) nghe hoàn toàn như một tên Trung Quốc bình thường.
Thị là 氏 (shì). Trong tiếng Hán, 氏 vốn chỉ dòng họ, và trong văn bản xưa phụ nữ hay được ghi theo kiểu "họ + 氏", như 王氏 là người đàn bà họ Vương. Vì vậy người Trung đọc 阮氏蘭 hiểu được đây là một phụ nữ Việt, nhưng họ dễ nhầm 氏 là một phần của họ, hoặc ngược lại tưởng "Thị" là tên. Cách xử lý thực tế:
- Giấy tờ, hồ sơ thì giữ đủ 阮氏蘭 cho khớp hộ chiếu.
- Giao tiếp hằng ngày có thể giới thiệu gọn là 阮蘭 (Ruǎn Lán) hoặc chỉ tên 蘭, và nói rõ: 我的名字是蘭 (tên tôi là Lan).
Các tên đệm khác đều có chữ Hán quen thuộc: Hữu 有 (yǒu), Đức 德 (dé), Công 公 (gōng), Quốc 國 (giản thể 国, guó), Xuân 春 (chūn), Thu 秋 (qiū), Kim 金 (jīn), Ngọc 玉 (yù). Riêng Thanh và Gia thì có hai chữ phổ biến, phải hỏi lại ý gia đình.
Họ hoàng tộc và tên bốn chữ
Con cháu dòng chúa Nguyễn mang họ Tôn Thất 尊室 (Zūnshì), phụ nữ trong dòng này hay có chữ Tôn Nữ 尊女 (Zūnnǚ) trong tên, còn dòng trực hệ là Nguyễn Phúc 阮福 (Ruǎn Fú). Người Trung không quen họ hai chữ kiểu này, dù tiếng Trung cũng có họ kép như 歐陽 (Âu Dương) hay 司馬 (Tư Mã). Khi giới thiệu, nói rõ "我姓尊室,两个字" (tôi họ Tôn Thất, hai chữ) để người nghe không tách nhầm.
Tên Việt bốn, năm chữ cũng vậy: viết đủ trong giấy tờ, còn trong lớp học hay công ty, một tên ba chữ gồm họ và hai chữ tên sẽ dễ nhớ hơn nhiều.
Viết pinyin cho đúng
- Họ đứng trước, tên đứng sau, giống tiếng Việt, không đảo như tiếng Anh.
- Họ viết riêng, các chữ của tên viết liền: Chén Míng'ān (陳明安), không viết Chen Ming An.
- Khi chữ sau bắt đầu bằng nguyên âm, dùng dấu nháy để tách âm tiết như Míng'ān, tránh đọc nhầm thành Mín Gān.
- Viết họ in hoa khi cần phân biệt trên hồ sơ quốc tế: RUAN Wenming.
Bạn có thể gõ họ tên mình vào trang tra tên chữ Hán để xem cả phồn thể, giản thể, pinyin và cách đọc ở Hàn, Nhật, hoặc mở riêng chữ họ như 阮 để xem các từ có chứa chữ đó.
Câu hỏi thường gặp
Họ Nguyễn tiếng Trung viết thế nào?
Họ Nguyễn là 阮, đọc Ruǎn với thanh ba. Chữ này giống nhau ở phồn thể và giản thể.
Họ Huỳnh có chữ Hán không?
Có, họ Huỳnh chính là họ Hoàng 黃, giản thể 黄, đọc Huáng. Âm "Huỳnh" được cho là cách đọc chệch để kiêng tên chúa Nguyễn Hoàng.
Chữ Thị trong tên tiếng Trung viết thế nào?
Thị là 氏, đọc shì. Giấy tờ thì giữ nguyên, còn khi giao tiếp nhiều người lược bớt để người Trung không nhầm Thị là tên chính.
Họ Phạm viết 范 hay 範?
Luôn là 范. Chữ 範 nghĩa là khuôn mẫu, chỉ trùng với 范 khi viết giản thể nên máy chuyển đổi hay đổi nhầm.
Họ Võ và họ Vũ có khác nhau trong tiếng Trung không?
Không, cả hai đều là 武, đọc Wǔ. Sự khác nhau chỉ có trong tiếng Việt do cách đọc theo vùng.