AiNgonNgu.comGõ một ô · ra Trung, Hàn, Nhật
Học
Tên chữ Hán

Tên thuần Việt không có chữ Hán: Mây, Sen, Thắm đổi sang tiếng Trung, Hàn, Nhật thế nào

Mây, Sen, Thắm không có chữ Hán, còn Sương, Nhung, Trâm lại là Hán Việt. Ba cách đưa tên thuần Việt sang tiếng Trung, và vì sao tên Mận không nên dùng 李.

Hai cô gái trò chuyện trên cầu gỗ giữa đầm sen nở hồng buổi sáng

Thầy giáo người Trung hỏi "tên em viết chữ Hán thế nào", và cô gái tên Thắm lần đầu nhận ra tên mình không có chữ Hán nào cả. Tên thuần Việt như Mây, Sen, Thắm, Nụ, Gấm, Nắng được đặt bằng tiếng Việt từ gốc, không đi qua chữ Hán, nên tra từ điển Hán Việt sẽ không thấy. Ngược lại, có những tên nghe rất "nôm" như Sương, Nhung, Trâm lại là chữ Hán chính hiệu. Bài này giúp bạn phân biệt hai loại, rồi chỉ ba cách đưa một tên thuần Việt sang tiếng Trung, Hàn, Nhật mà vẫn giữ được ý cha mẹ gửi gắm.

Tên thuần Việt và tên Hán Việt "trá hình"

Không thể đoán bằng cảm giác. Nhiều tên nghe mộc mạc nhưng thật ra đã vào tiếng Việt từ chữ Hán hàng trăm năm, lâu tới mức không ai còn thấy nó "Hán".

Nghe như thuần Việt nhưng là Hán ViệtChữ Hán · pinyinNghĩa
Sương霜 shuāngsương giá
Nhung絨 róngvải nhung, lông tơ mịn
Thoa釵 chāicây thoa cài tóc
Trâm簪 zāncây trâm cài tóc
Yến燕 yànchim én, chim yến
Cúc · Đào · Mai · Lan菊 jú · 桃 táo · 梅 méi · 蘭 láncác loài hoa

Còn những tên dưới đây là thuần Việt, không có chữ Hán tương ứng về âm: Mây, Sen, Thắm, Nụ, Bông, Nhài, Gấm, Lụa, Nắng, Suối, Mận, Thơm, Xinh. Cách kiểm nhanh: thử tìm một từ ghép Hán Việt có chứa âm đó với cùng nghĩa. "Sương" có 霜雪 (sương tuyết), "Yến" có 燕子. "Mây" thì không, vì từ Hán Việt chỉ mây là "vân" 雲. Gõ âm vào trang tra âm Hán Việt cũng cho thấy ngay âm đó có những chữ Hán nào, nếu không có chữ nào mang đúng nghĩa thì tên của bạn là thuần Việt.

Cách thứ nhất: dịch nghĩa sang chữ Hán tương đương

Đây là cách phổ biến và giữ ý cha mẹ tốt nhất. Bạn tìm chữ Hán có nghĩa giống tên mình, chữ đó sẽ có âm Hán Việt khác, và tên tiếng Trung đọc theo chữ ấy.

  • Mây → 雲 (Vân), đọc yún. Một chữ cực kỳ phổ biến trong tên nữ ở Trung Quốc, nghe tự nhiên.
  • Sen → 蓮 (Liên), đọc lián. Giản thể là 莲.
  • Gấm → 錦 (Cẩm), đọc jǐn. Giản thể là 锦, chữ này còn gợi "gấm vóc, tươi đẹp" như trong 錦繡 (cẩm tú).
  • Suối → 泉 (Tuyền), đọc quán.
  • Nhài → 茉莉 (mạt lỵ), đọc mòlì. Hai chữ, nhưng 茉莉 là tên nữ có thật trong tiếng Trung, tương tự tên Jasmine trong tiếng Anh.
  • Nắng → 陽 (Dương), đọc yáng, hoặc 晴 (Tình, trời quang), đọc qíng. Chọn chữ nào tuỳ bạn muốn nhấn vào ánh mặt trời hay vào trời trong.
  • Thắm → khó hơn vì "thắm" vừa là màu đỏ tươi vừa là tình cảm đậm đà. Màu thì có 丹 (Đan, đỏ son), đọc dān. Tình thì có 深 (Thâm, sâu đậm), nhưng 深 làm tên nghe nặng. Phần lớn người tên Thắm chọn 丹.
  • Thơm → 香 (Hương), đọc xiāng. Xinh → 麗 (Lệ), đọc lì, giản thể 丽.

Một chỗ phải cẩn thận: Mận. Quả mận miền Bắc trong tiếng Trung là 李子, tức chữ 李, mà 李 là họ Lý, một trong những họ phổ biến nhất Trung Quốc. Đặt tên chính là 李 thì người Trung sẽ tưởng bạn ghi nhầm họ vào chỗ tên. Người tên Mận nên chọn theo hướng khác, chẳng hạn mượn âm như cách dưới đây.

Cách thứ hai: mượn chữ có âm gần

Có người muốn tên tiếng Trung nghe giống tên thật để bạn bè gọi vẫn quen. Khi đó bạn chọn chữ có âm tiếng Trung gần với tên Việt, đồng thời mang nghĩa đẹp.

  • Mây → 美 měi (đẹp). Âm měi nghe khá gần "mầy, mây".
  • Na → 娜 nà, chữ chuyên dùng cho tên nữ, nghĩa là dáng mềm mại.
  • Mận → 曼 màn (mềm mại, kéo dài) hoặc 嫚 màn. Âm gần "mận" mà không dính tới họ Lý.

Cách này hợp với tên ngắn, một âm tiết, có phụ âm đầu mà tiếng Trung cũng có như m, n, l. Với tên bắt đầu bằng âm tiếng Trung không có, như "Thắm" (th bật hơi của tiếng Việt không giống t hay ch của tiếng Trung) hay vần "ươ", mượn âm thường ra kết quả gượng, quay về cách dịch nghĩa sẽ tốt hơn.

Cách thứ ba: giữ nguyên âm, viết bằng chữ ghi âm

Đây là điều nhiều người không biết: sang Hàn Quốc và Nhật Bản, bạn không cần chữ Hán cho tên. Người Hàn và người Nhật viết tên người nước ngoài bằng chữ ghi âm, tức hangul và katakana, theo cách nghe. Tên Sen sẽ là 센 trong tiếng Hàn và セン trong tiếng Nhật; tên Nụ là 누 và ヌー. Không ai đòi bạn chữ Hán, nên tên thuần Việt không gặp trở ngại gì.

Chữ Hán cho tên chỉ thật sự cần khi bạn học hay làm việc với người Trung Quốc, người Đài Loan, hoặc khi muốn có một tên Hán Hàn kiểu 한국 이름 để bạn bè người Hàn dễ gọi. Lúc đó, bạn dịch nghĩa như cách thứ nhất rồi đọc chữ Hán theo âm Hàn: 雲 là 운, 蓮 là 련 (đứng đầu từ thì đọc 연), 錦 là 금.

Tên nửa Hán nửa Nôm

Rất nhiều tên Việt ghép một chữ Hán với một chữ thuần Việt: Ngọc Thắm, Thu Nhài, Hồng Nhung. "Ngọc" là 玉, "Thu" là 秋, "Hồng" là 紅 hoặc 鴻. Phần Hán giữ nguyên, phần Nôm thì dịch nghĩa theo cách trên. Ngọc Thắm thành 玉丹 (Yù Dān), Thu Nhài có thể thành 秋莉 (Qiū Lì), lấy chữ cuối của 茉莉 cho tên gọn hai chữ.

Điều cần giữ là nhịp tên. Tên tiếng Trung phổ biến nhất là ba chữ: một họ và hai chữ tên. Nếu tên tiếng Việt của bạn có bốn, năm âm tiết, bản tiếng Trung không cần dịch đủ từng âm. Người Trung sẽ thấy tự nhiên hơn với 阮玉丹 (Ruǎn Yùdān) so với một chuỗi năm chữ.

Tên gọi ở nhà thì sao

Bống, Mít, Tôm, Út, Cún là những tên thân mật không có chữ Hán và cũng không cần dịch. Mỗi nước có cách gọi thân mật riêng, bạn chỉ cần biết để người ta gọi mình cho đúng không khí:

  • Tiếng Trung hay gọi bằng 小 + một chữ của tên: người tên 丹 được bạn bè gọi 小丹. Một kiểu khác là lặp chữ, như 丹丹.
  • Tiếng Hàn thêm 아 sau tên kết thúc bằng phụ âm, 야 sau tên kết thúc bằng nguyên âm: 센아, 누야. Kiểu gọi này chỉ dùng giữa bạn bè ngang hàng hoặc với người nhỏ tuổi hơn.
  • Tiếng Nhật thêm ちゃん cho người thân thiết, nhất là nữ hoặc trẻ nhỏ: センちゃん.

Những điều không cần làm

  • Không cần đổi tên trên giấy tờ. Tên tiếng Trung là tên dùng hằng ngày, giống như nhiều người có tên tiếng Anh. Mọi giấy tờ chính thức vẫn theo hộ chiếu.
  • Không cần ép tên thuần Việt vào một chữ Hán cùng âm. Chọn đại một chữ đọc là "sen" hay "thắm" theo kiểu phiên âm sẽ ra những chữ vô nghĩa hoặc nghĩa xấu.
  • Không cần thấy tên thuần Việt là thiệt thòi. Khi bạn giải thích "tên tôi nghĩa là đám mây, nên tên tiếng Trung là 雲", người nghe thường nhớ bạn lâu hơn những cái tên chỉ đổi âm.

Muốn xem trước tên mình sau khi đổi trông thế nào ở cả ba nước, bạn có thể thử ở trang tra tên chữ Hán với phần tên Hán Việt, còn phần thuần Việt thì quyết định theo các cách trên.

Câu hỏi thường gặp

Tên thuần Việt có chữ Hán không?

Không có chữ Hán cùng âm, vì tên được đặt bằng tiếng Việt gốc. Muốn có tên chữ Hán, bạn dịch nghĩa tên sang chữ Hán tương đương, ví dụ Mây thành 雲, Sen thành 蓮.

Tên Sương, Nhung, Trâm có phải thuần Việt không?

Không, đó là tên Hán Việt: Sương là 霜, Nhung là 絨, Trâm là 簪. Chúng vào tiếng Việt lâu đến mức nghe như thuần Việt.

Sang Hàn Quốc hay Nhật Bản có cần tên chữ Hán không?

Không bắt buộc. Người Hàn và người Nhật viết tên người nước ngoài bằng hangul và katakana theo cách đọc. Chữ Hán chỉ cần nếu bạn muốn có thêm một tên Hán Hàn hay tên kiểu Nhật cho vui.

Tên Mận dịch sang tiếng Trung thế nào cho hay?

Quả mận là 李, nhưng 李 là họ Lý nên không hợp làm tên. Người tên Mận thường mượn âm gần như 曼 màn, nghĩa là mềm mại, thanh thoát.

Tên tiếng Trung tự đặt có phải dùng trên giấy tờ không?

Không. Đó là tên dùng trong giao tiếp, lớp học, nơi làm việc. Giấy tờ chính thức vẫn ghi theo hộ chiếu, còn nếu cơ quan nước ngoài cần tên chữ Hán thì họ sẽ hướng dẫn cụ thể.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.