Học kanji, người Việt hay được khuyên "nhớ âm Hán Việt là được một nửa". Câu đó đúng, nhưng ít ai chỉ cho biết nửa ấy dùng thế nào. Thực tế, âm Hán Việt không cho bạn đọc thẳng ra âm Nhật, nhưng nó cho biết khá chắc ba điều mà người học hay sai nhất: chữ đó kết thúc bằng gì, có trường âm hay không, và khi ghép từ thì chỗ nào xuất hiện âm ngắt っ. Người học không có âm Hán Việt phải học thuộc những thứ đó từng chữ một. Bài này đưa ra các quy luật đối chiếu, kèm phần không đoán được để bạn khỏi tin quá mức.
Chỉ âm On mới đoán được
Mỗi kanji có thể có hai kiểu đọc. Âm On (音読み) là cách đọc mượn từ tiếng Trung xưa, cùng gốc với âm Hán Việt. Âm Kun (訓読み) là từ thuần Nhật được gán vào chữ Hán: 山 đọc やま, 人 đọc ひと, 学ぶ đọc まなぶ. Âm Kun không có liên hệ gì với âm Hán Việt. Quy luật trong bài chỉ áp dụng cho âm On, tức là phần lớn từ ghép hai chữ như 学生, 経済, 電話.
Vần cuối: phần đoán chắc nhất
| Hán Việt kết thúc bằng | Âm On kết thúc bằng | Ví dụ |
|---|---|---|
| -c, -ch | く hoặc き | 學 học がく · 國 quốc こく · 石 thạch せき · 力 lực りょく · 駅 dịch えき |
| -t | つ hoặc ち | 一 nhất いち · 八 bát はち · 発 phát はつ · 物 vật ぶつ · 月 nguyệt げつ |
| -p | trường âm う | 十 thập じゅう · 法 pháp ほう · 合 hợp ごう · 急 cấp きゅう · 入 nhập にゅう |
| -m, -n | ん | 三 tam さん · 心 tâm しん · 山 sơn さん · 新 tân しん |
| -ng | trường âm う | 東 đông とう · 中 trung ちゅう · 王 vương おう · 長 trường ちょう |
| -nh | えい (đôi khi ょう) | 生 sinh せい · 英 anh えい · 明 minh めい · 平 bình へい |
Dòng -p là dòng thú vị nhất. Ngày xưa người Nhật đọc những chữ này với đuôi ふ, rồi ふ mòn dần thành う, ghép với nguyên âm trước thành trường âm. Vì thế 十 là じゅう, 法 là ほう. Người Việt nhìn âm "thập" có -p ở cuối là biết chắc âm Nhật dài. Có vài chữ đi lệch, đọc thành つ: 立 lập りつ, 雑 tạp ざつ. Gặp chúng thì ghi chú riêng.
Tiếng Nhật nhập -m và -n làm một (ん), nên ở chiều này âm Hán Việt cho nhiều thông tin hơn tiếng Nhật: bạn biết 三 và 山 cùng là さん nhưng gốc khác nhau.
Trường âm: chỗ âm Hán Việt cứu người Việt
Người Việt hay đọc thiếu trường âm, nói しゅじん (chủ nhân, chồng) thành しゅうじん (tù nhân) hoặc ngược lại. Âm Hán Việt là cách nhớ trường âm tốt nhất, nếu biết các quy luật sau:
- Kết thúc bằng -ng hoặc -p → gần như luôn có trường âm: 東京 đông kinh とうきょう, 中学 trung học ちゅうがく, 十分 じゅうぶん.
- Kết thúc bằng -nh → thường là えい: 先生 せんせい, 英語 えいご, 経済 けいざい.
- Vần -ao, -au, -ưu → thường là trường âm う: 高 cao こう, 道 đạo どう, 教 giáo きょう, 有 hữu ゆう, 九 cửu きゅう.
- Vần -ai, -ôi → kết thúc bằng い: 大 đại だい, 海 hải かい, 会 hội かい, 対 đối たい.
- Kết thúc bằng nguyên âm đơn như -a, -ư, -ô, -o → phần lớn là âm ngắn: 家 gia か, 語 ngữ ご, 書 thư しょ, 古 cổ こ.
Thử với cặp hay nhầm: 主人 là chủ nhân, "chủ" kết thúc bằng nguyên âm nên しゅ ngắn: しゅじん. 囚人 là tù nhân, "tù" là vần -u nên しゅう dài: しゅうじん. Âm Hán Việt phân biệt được giùm bạn.
Quy luật này không tuyệt đối. 数 số đọc すう dù "số" kết thúc bằng nguyên âm. Nhưng với phần lớn chữ thông dụng, nó đúng đủ để làm điểm tựa.
Âm ngắt っ xuất hiện ở đâu
Khi chữ đầu của từ ghép có âm On kết thúc bằng く hoặc つ, và chữ sau bắt đầu bằng k, s, t, p, thì く hoặc つ thường biến thành âm ngắt っ:
- 学 がく + 校 こう → 学校 がっこう
- 国 こく + 家 か → 国家 こっか
- 一 いち + 回 かい → 一回 いっかい
- 発 はつ + 表 ひょう → 発表 はっぴょう
- 出 しゅつ + 発 はつ → 出発 しゅっぱつ
Mà く, つ lại ứng với -c, -t của tiếng Việt. Cho nên quy tắc rút gọn là: chữ đầu Hán Việt kết thúc bằng -c, -ch, -t, và chữ sau có âm On bắt đầu bằng k, s, t, h thì nghĩ ngay tới っ. Học lâu năm sẽ thấy đây là cách người Việt nhớ âm ngắt nhanh nhất. Chữ -p cũng có khi tạo っ trong từ ghép: 雑誌 ざっし, 合唱 がっしょう.
Phụ âm đầu: những tương ứng hay gặp
- h, k, c, kh, gi → k, g: 漢 hán かん, 海 hải かい, 空 không くう, 家 gia か, 教 giáo きょう.
- ng → g: 五 ngũ ご, 語 ngữ ご, 外 ngoại がい.
- nh → n hoặc j: 人 nhân にん, じん; 日 nhật にち, じつ; 熱 nhiệt ねつ.
- v → b hoặc m: 文 văn ぶん, もん; 物 vật ぶつ, もつ; 万 vạn まん; 味 vị み.
- b, ph → h, b: 北 bắc ほく, 百 bách ひゃく, 法 pháp ほう, 分 phân ぶん.
- t, th → s, z hoặc t: 子 tử し, 前 tiền ぜん, 時 thời じ, 天 thiên てん, 体 thể たい.
- đ → t, d: 大 đại だい, 道 đạo どう, 電 điện でん.
- tr, ch, x → ch, sh: 中 trung ちゅう, 主 chủ しゅ, 車 xa しゃ, 出 xuất しゅつ.
- l → r: 力 lực りょく, 理 lý り, 料 liệu りょう.
Phụ âm đầu cho bạn hàng, vần cuối cho bạn đuôi. Ghép hai thứ lại, phần lớn chữ thông dụng bạn sẽ đoán trúng hoặc sát.
Hai lớp âm On: vì sao một chữ có hai cách đọc
Nhiều chữ có hai âm On, do vào Nhật ở hai thời kỳ khác nhau. Lớp cũ gọi là go-on (呉音), lớp sau là kan-on (漢音):
- 人: にん trong 三人 さんにん, じん trong 日本人 にほんじん.
- 生: しょう trong 一生 いっしょう, せい trong 学生 がくせい.
- 明: みょう trong 明日 みょうにち, めい trong 説明 せつめい.
- 行: ぎょう trong 行列 ぎょうれつ, こう trong 銀行 ぎんこう.
Âm Hán Việt thường gần với lớp kan-on hơn, nhưng không quyết định được từ nào dùng lớp nào. Ở đây không có đường tắt: học từ, không học chữ rời. Âm Hán Việt cho bạn bộ khung, từ cụ thể cho bạn lớp đọc.
Những chỗ đừng đoán
- Âm Kun và từ trộn Kun–On. 手紙 てがみ, 場所 ばしょ, 毎朝 まいあさ đều có ít nhất một chữ đọc âm Kun. Nhìn vào chữ không biết trước được.
- Âm đục khi ghép từ. 本 ほん nhưng 三本 さんぼん, 一本 いっぽん. Đây là quy tắc riêng của tiếng Nhật, âm Hán Việt không nói gì về nó.
- Tên người, tên đất. Tên riêng Nhật đọc rất tự do. 東海林 có người đọc là しょうじ. Gặp tên riêng thì hỏi hoặc tra, đừng đoán.
Cách tập
- Mỗi kanji mới, viết âm Hán Việt bên cạnh âm On, rồi tự hỏi: vần cuối có khớp quy luật không. Chữ nào lệch thì đánh dấu, đó là chữ cần ôn.
- Đọc to từ ghép và kiểm âm ngắt, trường âm bằng quy luật trong bài trước khi xem cách đọc.
- Tra chữ ở ba thứ tiếng một lúc. Trang tra chữ 学 đặt âm Hán Việt, âm On, âm Hàn và pinyin cạnh nhau, nhìn là thấy quy luật vần cuối chạy qua cả ba. Khi học bài bản, phần tiếng Nhật trên Ngôn Ngữ đưa chữ vào câu để bạn luyện đọc thật.
Câu hỏi thường gặp
Âm Hán Việt có giúp học kanji không?
Có, nhất là với âm On. Âm Hán Việt cho biết khá chắc vần cuối, trường âm và chỗ có âm ngắt. Nó không giúp với âm Kun và không cho biết chữ dùng lớp go-on hay kan-on trong từ cụ thể.
Làm sao biết kanji có trường âm hay không?
Xem âm Hán Việt: kết thúc bằng -ng, -p hoặc vần -ao, -ưu thì gần như chắc có trường âm; kết thúc bằng -nh thường là えい. Chữ kết thúc bằng nguyên âm đơn phần lớn là âm ngắn.
Vì sao 十 đọc là じゅう mà không phải じゅ?
Vì "thập" có âm cuối -p. Ngày xưa tiếng Nhật đọc đuôi này là ふ, sau đó ふ mòn thành う và tạo ra trường âm. Mọi chữ Hán Việt kết thúc bằng -p đều theo hướng này, trừ vài chữ như 立, 雑.
Go-on và kan-on khác nhau thế nào?
Đó là hai lớp âm On vào Nhật ở hai thời kỳ. Go-on cũ hơn, hay gặp trong từ Phật giáo và từ thường ngày; kan-on gặp nhiều trong từ học thuật. Một chữ có thể dùng lớp này trong từ này, lớp kia trong từ khác.
Có nên học âm Hán Việt trước khi học kanji không?
Không cần học riêng. Cứ học kanji kèm âm Hán Việt bên cạnh, vì đa số người Việt đã biết sẵn âm Hán Việt qua tiếng mẹ đẻ, chỉ cần nối lại.